Tuần Sau T/ái G/iá, Tôi Ra Viếng M/ộ Chồng Cũ… Đang Lau D/i Ả/nh Thì Cậu Bé Bước Tới Nói: ““Cô ơi, chú này vẫn còn s/ống, đang ở nhà con mà.”

Tuần Sau T/ái G/iá, Tôi Ra Viếng M/ộ Chồng Cũ… Đang Lau D/i Ả/nh Thì Cậu Bé Bước Tới Nói: ““Cô ơi, chú này vẫn còn s/ống, đang ở nhà con mà.”

Tôi qu/ỳ trước m/ộ gi/ó của chồng, tay lau tấm ảnh ướt mưa, nước mắt rơi lã chã. Gió biển thổi qua hàng phi lao, lạnh buốt tận xương. Bỗng sau lưng có tiếng trẻ con lí nhí: “Cô ơi, chú này vẫn còn sống, đang ở nhà con mà.”

Tôi run rẩy quay lại. Một cậu bé khoảng 11-12 tuổi, da đen nhẻm, chân dép lê lấm bùn, đang chỉ tay vào ảnh Lâm Việt Dũng trên bia mộ. Tim tôi như ngừ/ng đậ/p. Ba năm qua, tôi Nguyễn Hoài An, 35 tuổi, một mình gồng gánh công ty vận tải biển Đại Phong của chồng, ngày ngày ra đây kể chuyện với tấm ảnh. Người ta bảo tôi ôm bóng chồng, bảo tôi đi/ê/n. Vậy mà giờ một đứa trẻ làng chài lại nói chồng tôi còn sống?

Hải Phòng chiều cuối hạ, mưa lất phất. Tôi theo cậu bé Tôm về làng trài sau bãi bồi. Đường đất ướt nhão, chân tôi vướng bùn, nhưng tôi không dừng. Nếu anh Dũng còn sống, dù anh quên tôi, dù anh sợ hãi, tôi cũng phải đưa anh về.

Ba năm trước, đêm 18 tháng 6 năm 2021, du thuyền Hồng Hải bốc cháy trên vịnh. Việt Dũng đi dự tiệc đối tác. Khi tôi chạy đến bến, lửa đã đỏ cả góc biển. Họ giữ tôi lại, tôi gào đến khản cổ. Ba ngày sau, họ mang về túi niêm phong: mảnh áo vest cháy xém, chiếc đồng hồ tôi tặng anh, và nhẫn cưới méo mó vì nhiệt. Không thi thể. Không xương. Không lời từ biệt.

Nhà chồng vẫn lậ/p m/ộ gi/ó. Bà Mai Thị Hạnh – mẹ kế chồng tôi – khóc lả người: “An à, người mất ngoài biển lạnh lắm, con không tìm được xác thì cũng phải có chỗ cho thằng Dũng về.” Tôi nhìn ảnh chồng trên bia, anh mặc vest xanh than, ánh mắt trầm mà sáng. Trong lòng tôi chỉ có một câu: Chưa thấy người, tôi không tin.

Sau lễ lập mộ, luật sư mang giấy tờ đến. Họ bảo tôi ký xác nhận Việt Dũng đã ch/ết để thuận tiện cho tài sản, cổ phần công ty. Tôi đẩy giấy trả lại. “Tôi không ký.” Bà Hạnh sững sờ: “Con định ôm cái bóng của nó cả đời à?” Tôi đáp khẽ: “Nếu mẹ gọi anh Dũng là cái bóng, thì con xin lỗi. Với con, anh ấy vẫn là chồng.”

Từ đó, người ta thương tôi ít đi, sốt ruột với tôi nhiều hơn. Đại Phong lung lay như con tàu gặp bão. Tôi học cách làm chủ tịch trong những buổi họp căng như dây đàn, dưới ánh mắt nghi ngờ của cổ đông. Đêm về, tôi mở sổ tay cũ của chồng đọc: “Tuyến phía nam phải giữ bằng mọi giá.” Nước mắt rơi xuống trang giấy.

Bà Hạnh luôn tỏ ra là mẹ hiền. Bà sai người nấu cháo gà, đặt tay lên vai tôi: “Con gồng thế này mẹ xót lắm. Hay để Quốc Khải phụ con thêm, dù sao nó cũng là em ruột thằng Dũng.” Lâm Quốc Khải – em trai cùng cha khác mẹ của chồng tôi – cười mềm mỏng: “Chị An, chị cứ xem em như người nhà. Em không tranh gì đâu, em chỉ muốn giữ Đại Phong cho anh Dũng.”

Nhưng Việt Dũng từng nói với tôi: “Khải cười nhiều nhưng mắt nó ít khi cười. Em đừng ghét nó nhưng cũng đừng tin nó bằng giấy trắng mực đen.”

Ba năm tôi vẫn ra mộ đều đặn. Mỗi lần lau ảnh chồng, tôi kể công ty hôm nay ra sao. Ngày nào tôi còn đứng được, ngày đó Đại Phong chưa được phép rơi vào tay người khác.

Sáng hôm đó, trong phòng họp tầng 17, tôi đặt tay lên lưng ghế của Việt Dũng: “Anh Dũng, anh chưa về, em chưa được phép ngã.”

……………………………………………

HẾT PHẦN 1 , CÒN TIẾP PHẦN 2 BÊN DƯỚI..

Leave a Comment

Comments

No comments yet. Why don’t you start the discussion?

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *